Thứ năm, 15/01/2026 11:06 (GMT+7)

Những lỗ hổng trong công tác hậu kiểm từ vụ 130 tấn lợn bệnh ở Đồ hộp Hạ Long

“Lỗ hổng cốt lõi của cơ chế hậu kiểm hiện nay chính là sự lệ thuộc quá mức vào hồ sơ – giấy tờ, trong khi kiểm soát thực chất và trách nhiệm chuỗi bị làm mờ”, Luật sư Tuấn cho biết.

Vụ việc 130 tấn lợn đông lạnh nhiễm bệnh, dương tính với virus tả lợn châu Phi của Công ty CP Đồ hộp Hạ Long bị Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an TP Hải Phòng phát hiện và khởi tố vừa qua đã gióng lên một hồi chuông cảnh báo về cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và quản lý chuỗi cung ứng trong kiểm soát an toàn vệ sinh thực phẩm thực chất hiện nay. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi đã trao đổi với Luật sư Nguyễn Văn Tuấn – Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội).

PV:Xin ông hãy cho biết, từ góc độ pháp lý, vụ phát hiện 130 tấn lợn nhiễm dịch tại Đồ hộp Hạ Long cho thấy những lỗ hổng lớn nào trong cơ chế hậu kiểm an toàn thực phẩm hiện nay?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Dưới góc độ pháp lý và quản trị nhà nước, việc các sai phạm nghiêm trọng tại Đồ hộp Hạ Long chỉ bị phát hiện sau nhiều năm cho thấy lỗ hổng lớn nhất của cơ chế hậu kiểm hiện nay không nằm ở thiếu quy định, mà nằm ở cách vận hành và triết lý quản lý.

Lỗ hổng cốt lõi của cơ chế hậu kiểm hiện nay chính là sự lệ thuộc quá mức vào hồ sơ – giấy tờ, trong khi kiểm soát thực chất và trách nhiệm chuỗi bị làm mờ.

Trước hết, hậu kiểm đang bị ‘hành chính hóa’, thay vì được triển khai như một công cụ quản lý rủi ro. Trên thực tế, hoạt động hậu kiểm của nhiều cơ quan quản lý chủ yếu xoay quanh việc kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ pháp lý: giấy phép, chứng nhận, hóa đơn, sổ sách. Khi doanh nghiệp có đủ giấy tờ hợp lệ, việc kiểm tra thường dừng lại ở đó. Trong khi đó, các yếu tố mang tính quyết định đến an toàn thực chất – như nguồn gốc nguyên liệu, điều kiện sản xuất thực tế, tính trung thực của thông tin công bố – lại ít được kiểm tra sâu, hoặc chỉ làm mang tính hình thức.

Điều này dẫn đến một nghịch lý: doanh nghiệp ‘đạt chuẩn trên giấy’ nhưng rủi ro vẫn tồn tại ngoài đời thực, và chỉ lộ diện khi đã tích tụ đủ lớn để không thể che giấu.

Thứ hai, uy tín lâu năm của doanh nghiệp vô tình tạo ra một ‘vùng miễn dịch giám sát’. Các thương hiệu tồn tại nhiều năm, quen mặt trên thị trường thường mặc nhiên được xếp vào nhóm ‘rủi ro thấp’. Khi đó, tần suất kiểm tra giảm, mức độ nghi ngờ giảm, và những câu hỏi khó không còn được đặt ra thường xuyên. Chính cơ chế này khiến các sai phạm có tính hệ thống dễ dàng kéo dài trong âm thầm, từ việc đánh tráo xuất xứ, lập lờ thông tin sản phẩm, cho đến thu mua nguyên liệu không bảo đảm an toàn.

Nói cách khác, thương hiệu càng lớn, lịch sử thương hiệu càng dài, thì giám sát thực tế lại càng lỏng lẻo, trong khi đây lẽ ra phải là nhóm chịu sự kiểm soát chặt chẽ nhất vì tác động xã hội của họ là rất lớn.

Thứ ba, cơ chế hậu kiểm hiện nay chưa gắn chặt trách nhiệm cá nhân với trách nhiệm pháp nhân. Khi sai phạm bị phát hiện, việc xử lý thường dừng lại ở mức phạt hành chính đối với doanh nghiệp, trong khi trách nhiệm của người ra quyết định, người phê duyệt, người kiểm soát nội bộ không được truy cứu đến cùng. Điều này tạo ra tâm lý ‘chi phí vi phạm’ có thể tính toán được, khiến sai phạm không còn là rủi ro pháp lý thực sự, mà trở thành một lựa chọn kinh doanh có chủ đích.

Trong bối cảnh đó, hậu kiểm không còn là công cụ phòng ngừa, mà chỉ là bước xác nhận hậu quả khi sự việc đã vượt quá ngưỡng quy chuẩn an toàn của xã hội.

Thứ tư, cần nhìn thẳng vào lỗ hổng từ phía cơ quan quản lý. Khi việc cấp phép, thẩm định, hậu kiểm bị lệ thuộc quá nhiều vào quy trình nội bộ, thiếu minh bạch và thiếu cơ chế giám sát chéo hiệu quả, thì nguy cơ xuất hiện sai phạm trong quá trình thực hiện thủ tục là điều khó tránh. Những vụ việc liên quan đến sai phạm trong hoạt động cấp phép, chứng nhận an toàn thực phẩm thời gian qua cho thấy: khi lá chắn cuối cùng của người tiêu dùng bị suy yếu, thì hồ sơ hợp lệ không còn là bảo chứng cho an toàn, mà có thể trở thành công cụ che chắn sai phạm.

PV:Theoông,việc một lượng lớn nguyên liệu nhiễm dịch tồn tại trong kho doanh nghiệp thời gian dài phản ánh bất cập gì trong khâu giám sát sau cấp phép?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Việc một lượng lớn nguyên liệu nhiễm dịch vẫn tồn tại trong kho doanh nghiệp suốt thời gian dài trước hết phản ánh lỗ hổng nghiêm trọng trong cơ chế giám sát sau cấp phép, đặc biệt là sự thiếu liên thông và chủ động giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành. Theo quy định của Luật An toàn thực phẩm năm 2010, cơ sở sản xuất, kinh doanh có trách nhiệm duy trì đầy đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong suốt quá trình hoạt động, không chỉ tại thời điểm được cấp phép. Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động hậu kiểm – vốn là trụ cột của quản lý rủi ro – lại chưa được thực hiện thường xuyên, liên tục và có chiều sâu, dẫn đến việc vi phạm tồn tại kéo dài mà không bị phát hiện kịp thời.

Từ góc độ pháp lý, tình trạng này cho thấy việc thực thi các quy định về thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất theo Luật Thanh tra năm 2022 và các nghị định hướng dẫn trong lĩnh vực an toàn thực phẩm chưa đạt hiệu quả. Pháp luật hiện hành cho phép cơ quan quản lý nhà nước tiến hành kiểm tra không cần báo trước khi có dấu hiệu vi phạm hoặc nguy cơ gây mất an toàn, nhưng trên thực tế, nhiều cuộc kiểm tra vẫn mang tính hình thức, nặng về hồ sơ, thiếu kiểm tra thực tế về kho bãi, điều kiện bảo quản và tình trạng nguyên liệu tồn kho.

Bên cạnh đó, việc nguyên liệu nhiễm dịch không được xử lý kịp thời còn phản ánh sự thiếu minh bạch trong trách nhiệm giám sát và phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Luật An toàn thực phẩm và các văn bản như Nghị định số 15/2018/NĐ-CP đã phân công trách nhiệm cho Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương theo từng nhóm sản phẩm, nhưng cơ chế phối hợp, chia sẻ thông tin và cảnh báo rủi ro chưa thực sự hiệu quả. Điều này dẫn đến sự xuất hiện ‘khoảng trống quản lý’, nơi vi phạm có thể tồn tại trong thời gian dài mà không cơ quan nào phát hiện hoặc xử lý dứt điểm.

Ở khía cạnh trách nhiệm của doanh nghiệp, việc để nguyên liệu nhiễm dịch tồn kho kéo dài là hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo đảm an toàn và phòng ngừa rủi ro, có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định số 115/2018/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung) hoặc thậm chí bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu gây hậu quả nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế hậu kiểm hiệu quả và kịp thời, các chế tài này khó phát huy tác dụng răn đe.

Vụ việc đặt ra yêu cầu cấp thiết phải chuyển mạnh từ quản lý ‘tiền kiểm’ sang ‘hậu kiểm thực chất’, tăng cường kiểm tra đột xuất dựa trên đánh giá rủi ro, đồng thời xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cơ quan quản lý khi để vi phạm kéo dài. Chỉ khi cơ chế giám sát sau cấp phép được thực hiện nghiêm minh, liên tục và có trách nhiệm giải trình rõ ràng, những bất cập tương tự mới có thể được khắc phục một cách nghiêm chỉnh.

tm-img-alt
Sản phẩm Pate Cột đèn của Công ty CP Đồ hộp Hạ Long không đảm bảo anh toàn vệ sinh thực phẩm. Ảnh: Báo Tiền phong

PV:Ôngnhận thấytrách nhiệm hậu kiểm hiện nay đang thuộc về doanh nghiệp hay cơ quan quản lý nhà nước, và vì sao cơ chế này chưa phát huy hiệu quả?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Về mặt pháp lý, trách nhiệm hậu kiểm không thuộc riêng về một phía, mà được thiết kế theo hướng trách nhiệm đồng thời giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp chịu trách nhiệm bảo đảm điều kiện sản xuất, kinh doanh an toàn trong suốt quá trình hoạt động theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010 và các luật chuyên ngành có liên quan. Việc được cấp phép chỉ là điều kiện ban đầu, còn nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, tự kiểm soát rủi ro và kịp thời xử lý nguyên liệu, sản phẩm không bảo đảm an toàn là trách nhiệm thường xuyên, liên tục của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, pháp luật hiện hành cũng quy định rất rõ trách nhiệm hậu kiểm thuộc về cơ quan quản lý nhà nước. Theo Luật Thanh tra năm 2022 và các nghị định hướng dẫn trong lĩnh vực an toàn thực phẩm như Nghị định số 15/2018/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền phải tổ chức kiểm tra định kỳ, đột xuất trên cơ sở đánh giá nguy cơ, kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm. Hậu kiểm vì vậy không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ pháp lý của cơ quan quản lý, nhằm bảo đảm các điều kiện đã được cấp phép tiếp tục được duy trì trên thực tế.

Cơ chế hậu kiểm hiện nay chưa phát huy hiệu quả chủ yếu do cách thức triển khai còn nặng về hình thức và thiếu chiều sâu. Nhiều cuộc kiểm tra vẫn tập trung vào hồ sơ, giấy tờ hơn là kiểm tra thực tế kho bãi, dây chuyền sản xuất và tình trạng tồn kho nguyên liệu. Bên cạnh đó, việc kiểm tra thường được thông báo trước, làm giảm đáng kể khả năng phát hiện vi phạm thực chất, đặc biệt là các hành vi che giấu, trì hoãn xử lý nguyên liệu không đạt yêu cầu.

Một nguyên nhân quan trọng khác là sự phân tán và chồng chéo trong thẩm quyền quản lý, khi nhiều bộ, ngành cùng tham gia quản lý an toàn thực phẩm nhưng cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và cảnh báo sớm chưa hiệu quả. Pháp luật đã có quy định phân công, nhưng chưa gắn với trách nhiệm giải trình rõ ràng nếu để vi phạm kéo dài. Điều này khiến hậu kiểm chưa trở thành một công cụ quản lý rủi ro chủ động, mà mới dừng lại ở phản ứng sau khi sự việc đã bị phát hiện hoặc gây hậu quả.

Từ góc nhìn pháp lý, để hậu kiểm thực sự phát huy hiệu quả, cần xác lập rõ trách nhiệm của cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong từng khâu, đồng thời gắn hoạt động hậu kiểm với chế tài đủ mạnh và trách nhiệm cá nhân cụ thể. Khi hậu kiểm được thực hiện nghiêm túc, thường xuyên và dựa trên đánh giá rủi ro, cơ chế này mới có thể trở thành ‘hàng rào bảo vệ’ thực chất cho người tiêu dùng và trật tự quản lý nhà nước.

PV:Ông nhận thấyquy định về truy xuất nguồngốc,quản lý chuỗi cung ứng hiện nay còn thiếuyếu ở những khâu nào?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Từ góc độ pháp lý, có thể thấy hệ thống quy định về truy xuất nguồn gốc và quản lý chuỗi cung ứng tại Việt Nam đã có, nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống và điểm yếu trong khâu thực thi, tạo ra nguy cơ hợp thức hóa nguyên liệu không bảo đảm chất lượng. Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã đặt ra nguyên tắc truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm không bảo đảm an toàn, đồng thời yêu cầu cơ sở sản xuất, kinh doanh lưu giữ thông tin về nguồn gốc nguyên liệu. Tuy nhiên, quy định này mới dừng lại ở mức nguyên tắc, chưa được cụ thể hóa đầy đủ bằng các chuẩn mực kỹ thuật và cơ chế kiểm soát xuyên suốt chuỗi cung ứng.

Điểm yếu đầu tiên nằm ở khâu đầu vào nguyên liệu, đặc biệt với nguyên liệu nhập khẩu hoặc thu gom từ nhiều nguồn nhỏ lẻ trong nước. Pháp luật hiện hành chủ yếu dựa vào hồ sơ, chứng từ do doanh nghiệp tự kê khai và cung cấp, trong khi cơ chế kiểm tra chéo, xác minh độc lập từ phía cơ quan quản lý còn hạn chế. Điều này dẫn tới tình trạng ‘hợp thức hóa trên giấy’, khi nguyên liệu không đạt chuẩn hoặc có dấu hiệu nhiễm dịch vẫn có thể được đưa vào kho, vào dây chuyền sản xuất nếu hồ sơ được hoàn thiện về mặt hình thức.

Thứ hai, khâu quản lý trong quá trình lưu kho, bảo quản và luân chuyển nguyên liệu đang là mắt xích yếu. Các văn bản dưới luật như Nghị định số 15/2018/NĐ-CP và các thông tư chuyên ngành chưa đặt ra yêu cầu đủ chặt chẽ về việc theo dõi, cập nhật tình trạng nguyên liệu theo thời gian thực, đặc biệt đối với nguyên liệu có nguy cơ cao. Việc thiếu cơ chế giám sát liên tục khiến nguyên liệu đã bị phát hiện có rủi ro nhưng không bị buộc tiêu hủy hoặc cách ly hoàn toàn, triệt để, tạo điều kiện để bị ‘đổi nhãn’, ‘đổi mục đích sử dụng’ hoặc tái lưu thông.

Một bất cập khác là khâu liên kết và chia sẻ thông tin trong chuỗi cung ứng. Mặc dù pháp luật đã phân công trách nhiệm quản lý giữa các bộ, ngành và địa phương, nhưng chưa có một hệ thống truy xuất nguồn gốc thống nhất, đồng bộ và bắt buộc áp dụng trên phạm vi toàn quốc. Việc mỗi địa phương, mỗi ngành áp dụng một cách quản lý khác nhau khiến dữ liệu bị phân mảnh, làm suy giảm khả năng truy vết ngược khi xảy ra vi phạm, từ đó làm giảm hiệu quả phòng ngừa và xử lý nguyên liệu bẩn.

Cuối cùng, chế tài đối với hành vi gian lận trong truy xuất nguồn gốc hiện nay chưa đủ sức răn đe. Nghị định số 115/2018/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an toàn thực phẩm đã có quy định xử phạt, nhưng mức phạt và việc áp dụng trên thực tế vẫn chưa tương xứng với lợi ích kinh tế mà hành vi hợp thức hóa nguyên liệu bẩn mang lại. Khi chi phí vi phạm thấp hơn lợi ích thu được, nguy cơ tái phạm là rất lớn.

Từ thực tiễn này, có thể khẳng định rằng nguy cơ hợp thức hóa nguyên liệu bẩn không chỉ xuất phát từ ý thức tuân thủ của doanh nghiệp, mà còn do chuỗi cung ứng thiếu cơ chế kiểm soát chặt chẽ, liên thông và minh bạch ở từng khâu. Muốn khắc phục, pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng quản lý chuỗi cung ứng dựa trên rủi ro, tăng cường truy xuất nguồn gốc bằng công nghệ, đồng thời gắn trách nhiệm rõ ràng và chế tài đủ mạnh đối với từng mắt xích trong chuỗi.

PV:Xin ông cho biếtcác chế tài xử phạt vi phạm an toàn thực phẩm hiện hành có đủ sức răn đe hay chưa, nhất là với các doanh nghiệp lớn?

Luật sư Nguyễn VănTuấn: Từ các vụ ‘sụp đổ thương hiệu’ thời gian gần đây có thể thấy một thực tế đáng lo ngại: hệ thống chế tài hiện hành về cơ bản đã có đầy đủ, nhưng hiệu lực răn đe vẫn chưa tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm. Vấn đề không chỉ nằm ở ‘có hay không có chế tài’, mà ở việc chế tài đó có đủ nặng để buộc các chủ thể liên quan phải chịu trách nhiệm đến cùng hay không.

Trước hết, về mặt pháp lý, khung xử phạt hành chính hiện nay trong các lĩnh vực như an toàn thực phẩm, ghi nhãn hàng hóa, quảng cáo, gian lận xuất xứ… vẫn còn tương đối ‘mềm’ so với lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp có thể thu được từ hành vi vi phạm. Nhiều trường hợp, mức phạt tiền theo quy định tại các nghị định xử phạt chuyên ngành chỉ được xem như một khoản chi phí kinh doanh, chưa đủ để làm thay đổi hành vi. Trong khi đó, các biện pháp bổ sung như đình chỉ hoạt động, thu hồi giấy phép, buộc tiêu hủy sản phẩm vi phạm vẫn chưa được áp dụng một cách kiên quyết và đồng bộ.

Thứ hai, ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn bị vận dụng khá thận trọng, thậm chí có phần né tránh. Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định rõ các tội danh liên quan như Tội vi phạm quy định về an toàn thực phẩm (Điều 317), Tội sản xuất, buôn bán hàng giả (Điều 192), Tội lừa dối khách hàng (Điều 198), và đặc biệt là trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại tại Điều 75. Tuy nhiên, trên thực tế, không nhiều vụ việc đủ yếu tố cấu thành tội phạm được chuyển hóa kịp thời sang xử lý hình sự, dẫn đến việc chế tài mạnh nhất của pháp luật chưa được kích hoạt đúng lúc.

Thứ ba, trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước và cá nhân thực thi công vụ trong chuỗi quản lý còn chưa được đặt ra tương xứng. Khi sai phạm kéo dài nhiều năm mới bị phát hiện, câu hỏi không chỉ là doanh nghiệp đã vi phạm như thế nào, mà còn là cơ chế kiểm tra, giám sát đã bị vô hiệu ra sao. Tuy nhiên, việc xem xét trách nhiệm của người có thẩm quyền cấp phép, kiểm tra, hậu kiểm vẫn chủ yếu dừng ở mức rút kinh nghiệm hoặc xử lý nội bộ, chưa tạo được áp lực pháp lý đủ mạnh để ngăn ngừa tái diễn.

Từ thực tiễn đó, có thể khẳng định rằng chế tài hiện hành chưa thực sự đủ sức răn đe nếu chỉ dừng ở cách áp dụng như hiện nay, và cần những biện pháp mạnh hơn, đồng bộ hơn.

Cụ thể, theo tôi, cần tập trung vào ba hướng lớn. Một là, nâng cao mức xử phạt và mở rộng áp dụng các biện pháp chế tài bổ sung, đặc biệt là đình chỉ dài hạn, thu hồi giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn đối với các vi phạm nghiêm trọng, có tính hệ thống. Hai là, đẩy mạnh áp dụng chế tài hình sự đối với cả pháp nhân thương mại và cá nhân có liên quan, tránh tình trạng ‘hình sự hóa dè dặt’ dẫn đến bỏ lọt trách nhiệm. Ba là, thiết lập cơ chế truy cứu trách nhiệm rõ ràng đối với cơ quan quản lý và người thực thi công vụ, nhất là trong trường hợp có dấu hiệu buông lỏng quản lý hoặc tiếp tay cho sai phạm.

Tóm lại, chỉ khi pháp luật được áp dụng theo hướng không có ‘vùng an toàn’ cho cả doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý, và khi chi phí pháp lý của hành vi vi phạm vượt xa lợi ích thu được, thì các chế tài mới thực sự phát huy tác dụng răn đe, góp phần bảo vệ người tiêu dùng và giữ gìn kỷ cương của thị trường.

PV:Theo ông,việc xử lý hình sự lãnh đạo doanh nghiệp trong vụ việc này có thể tạo ra tác động cảnh báo như thế nào đối với thị trường và công tác hậu kiểm?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra vào cuộc và xem xét xử lý hình sự trong vụ việc này không chỉ đơn thuần là một biện pháp xử lí vi phạm pháp luật, mà là một tiếng chuông báo động, vạch ra ‘lằn ranh đỏ’ rõ ràng cho thị trường.

Đây là hành động quyết liệt nhằm phá vỡ ‘tấm khiên pháp nhân’ đã tồn tại quá lâu. Lâu nay, chúng ta thường thấy một thực trạng là khi công ty vi phạm, chỉ có pháp nhân, tức là công ty đứng ra chịu trách nhiệm, thường là bằng các khoản phạt tiền. ‘Tấm khiên’ này đã vô tình trở thành một lá chắn an toàn cho các cá nhân lãnh đạo. Họ có thể đưa ra những quyết định sai trái, chạy theo lợi nhuận mà phớt lờ đạo đức và pháp luật, và khi bị phát hiện, khoản phạt tiền chỉ được xem như một chi phí kinh doanh. Tuy nhiên, khi cơ quan điều tra vào cuộc, câu chuyện đã hoàn toàn khác. Họ không còn xử lý một pháp nhân nữa, mà họ đang đi tìm ‘bộ não và bàn tay’, tức là những con người cụ thể đã chỉ đạo hành vi sai trái đó. Họ sẽ đặt ra những câu hỏi: Ai là người đã ra quyết định nhập hoặc sử dụng số thịt bệnh này? Ai là người biết rõ sự việc nhưng đã làm ngơ, che giấu hoặc đồng lõa? Và ai là người hưởng lợi trực tiếp từ những khoản lợi bất chính này? Hành động này của cơ quan điều tra chính là để cá nhân hóa trách nhiệm. Nó xuyên thủng ‘tấm khiên’ pháp nhân để nhắm thẳng vào người ra quyết định. Thông điệp ở đây rất rõ ràng và đanh thép: Anh không thể núp bóng công ty để thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Lợi nhuận anh hưởng, thì rủi ro pháp lý, kể cả án tù, anh cũng phải là người gánh chịu.

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phân biệt rõ ràng về mặt pháp lý giữa vi phạm hành chính và trách nhiệm hình sự. Dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, vi phạm hành chính thường là các sai sót về quy trình, tiêu chuẩn, có thể khắc phục và xử phạt bằng tiền. Ngược lại, tội phạm hình sự là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội. Trong vụ việc này, có hai yếu tố then chốt đã đẩy sự việc sang khung hình sự: Về tính chất: Đây không phải là thịt không rõ nguồn gốc, mà là thịt bệnh. Bản thân nó đã mang mầm bệnh, là loại nguyên liệu bị pháp luật nghiêm cấm tuyệt đối vì khả năng gây hại trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng. Về quy mô: Con số khoảng 2 tấn cho thấy đây không phải là một lỗi bất cẩn hay sơ suất nhỏ lẻ. Nó thể hiện một hành vi có chủ đích, có hệ thống và quy mô công nghiệp, cho thấy sự coi thường pháp luật và sức khỏe cộng đồng một cách trắng trợn. Khi ‘lượng’ và ‘chất’ của vi phạm đã đủ, nó không còn là một ‘sai sót trong kinh doanh’ nữa, mà đã trở thành một mối đe dọa thực sự đối với an ninh sức khỏe cộng đồng. Phải khẳng định lại rằng khởi tố hình sự chính là ‘tiếng chuông’ báo động đanh thép nhất, vạch ra một ‘lằn ranh đỏ’ không thể nhân nhượng cho toàn thị trường. Nó khẳng định rằng mọi hành vi cố ý đầu độc người tiêu dùng vì lợi nhuận sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, và người chịu trách nhiệm cuối cùng chính là các cá nhân lãnh đạo.

PV:Ôngcó kiến nghịgì trong cơ chế hậu kiểmhiện nayđể ngăn chặn vi phạm từ gốc và khôi phục niềm tin của người tiêu dùng?

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn:Trước câu hỏi về việc thay đổi cơ chế hậu kiểm, quan điểm của tôi rất rõ ràng: Chúng ta không thể tiếp tục loay hoay với những sửa đổi manh mún hay các giải pháp mang tính tình thế, chắp vá như hiện nay. Để ngăn chặn tận gốc các vi phạm đang ngày càng tinh vi và khôi phục lại niềm tin vốn đã bị xói mòn nghiêm trọng của người tiêu dùng, cơ chế hậu kiểm cần một cuộc cách mạng toàn diện, một cuộc 'đại phẫu' thực sự..

Thứ nhất, phải thiết lập lại kỷ cương bằng ‘bàn tay sắt’ của pháp luật. Thực tế cho thấy, các chế tài hành chính hiện tại dường như chưa đủ sức răn đe, nhiều doanh nghiệp thậm chí coi tiền phạt chỉ là một loại ‘chi phí kinh doanh’ để tiếp tục tồn tại. Do đó, chúng ta buộc phải thay đổi tư duy quản lý: chuyển từ phạt hành chính sang kiên quyết hình sự hóa các vi phạm nghiêm trọng liên quan đến an toàn và quyền lợi người tiêu dùng. Quan trọng hơn, pháp luật phải quy trách nhiệm cá nhân trực tiếp đến từng lãnh đạo, người đứng đầu doanh nghiệp. Họ không thể nấp sau danh nghĩa ‘pháp nhân’ để chối bỏ trách nhiệm khi gây hại cho cộng đồng. Chỉ khi người đứng đầu cảm thấy ‘run sợ’ trước pháp luật, họ mới quản lý doanh nghiệp một cách tử tế.

Thứ hai, kích hoạt ‘con mắt giám sát’ toàn diện của công nghệ số. Trong kỷ nguyên 4.0, sự mập mờ không còn chỗ đứng. Cơ quan quản lý cần bắt buộc các doanh nghiệp áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch, áp dụng công nghệ chuỗi để kiểm soát chặt chẽ từ khâu trang trại, nuôi trồng cho đến khi sản phẩm lên bàn ăn. Mọi thông tin phải được phơi bày dưới ánh sáng. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế công khai danh tính các doanh nghiệp vi phạm một cách rộng rãi và thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Hãy để chính thị trường và người tiêu dùng thực hiện quyền phán xét tối thượng bằng ‘quyền lực của ví tiền’ – tẩy chay và đào thải những đơn vị làm ăn gian dối ra khỏi đời sống kinh tế.

Thứ ba, và là yếu tố then chốt cuối cùng: Trao ‘quyền lực thực tế’ cho xã hội. Cơ quan chức năng không thể có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng người dân thì có. Chúng ta cần thiết lập những kênh tố giác sai phạm an toàn, nơi danh tính người tố giác được bảo vệ tuyệt đối bằng các quy định pháp lý cụ thể. Khi người tiêu dùng và cộng đồng cảm thấy an tâm để lên tiếng, họ sẽ trở thành những ‘giám sát viên’ mẫn cán nhất, tạo nên một mạng lưới giám sát dày đặc mà không hành vi gian lận nào có thể lọt lưới.

Chỉ khi kết hợp đồng bộ được sức mạnh răn đe của pháp luật, sự minh bạch của công nghệ và quyền giám sát của cộng đồng, chúng ta mới có thể xây dựng lại một nền tảng niềm tin đã bị xói mòn nghiêm trọng.

Cảm ơn luật sư!

Cùng chuyên mục

Bảo đảm quyền lợi người dân trong giải phóng mặt bằng
Việc thu hồi đất có được thực hiện đúng pháp luật và bảo đảm đầy đủ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân hay không. Luật pháp đặt ra cơ chế để Nhà nước thu hồi đất phục vụ lợi ích công cộng, nhưng đồng thời cũng đặt ra các điều kiện nghiêm ngặt.
Lao xe máy đâm cảnh sát đang làm nhiệm vụ A80: Đáng tội gì?
Hai đối tượng trong vụ việc đều sinh năm 2007, tức là đã trên 17 tuổi vào thời điểm phạm tội, nên hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình. Tạp chí đã trao đổi với Luật sư về tội danh hai đối tượng phải đối mặt.

Tin mới