Thứ sáu, 16/01/2026 10:10 (GMT+7)

Mua hàng online không giao, không hoàn tiền: Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng thế nào?

Xu hướng mua sắm qua mạng ngày càng phổ biến, song không ít người tiêu dùng rơi vào cảnh đã chuyển tiền nhưng không nhận được hàng. Pháp luật hiện hành và các quy định mới sắp có hiệu lực bảo vệ người mua ra sao trước thực trạng này?

Anh P.V.H (phường Thanh Xuân, Hà Nội) phản ánh: “Tôi đặt mua hàng qua Facebook đã chuyển khoản đầy đủ nhưng sau đó người bán không giao hàng, liên hệ thì bị chặn. Trong trường hợp này, tôi có thể yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật không?”

Trả lời:

Thực tế cho thấy, mua sắm trực tuyến ngày càng phổ biến, song tình trạng người bán không giao hàng, không hoàn tiền sau khi đã nhận thanh toán vẫn diễn ra khá phức tạp, đặc biệt trên mạng xã hội. Đây là hành vi xâm phạm trực tiếp quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng và có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Về nguyên tắc, khi người mua đã chuyển tiền và người bán có cam kết giao hàng, giao dịch mua bán đã được xác lập. Việc người bán không thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc không hoàn trả tiền là hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự. Trong trường hợp này, người mua có quyền yêu cầu hoàn lại số tiền đã thanh toán và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Đáng chú ý, nếu người bán ngay từ đầu đã sử dụng thủ đoạn gian dối như rao bán hàng không có thật, dùng tài khoản ảo, nhận tiền rồi cắt đứt liên lạc nhằm chiếm đoạt tài sản, hành vi này có thể bị xem xét xử lý theo quy định của pháp luật hình sự, tùy theo giá trị tài sản chiếm đoạt và tính chất, mức độ vi phạm.

Điều 430 Bộ luật dân sự 2015 về Hợp đồng mua bán tài sản quy định:

“Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán.”

Theo đó, việc giao kết hợp đồng thực hiện bằng hành vi giao kết qua mạng là giao dịch dân sự được pháp luật thừa nhận.

Như vậy, trong trường hợp người mua đã đặt hàng trên mạng, đã chuyển tiền vào tài khoản người bán và có xác nhận giao dịch đặt hàng thành công thì được xem là hợp đồng mua bán tài sản đã được xác lập.

Hợp đồng này có hiệu lực pháp luật và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Theo quy định tại Điều 436 Bộ luật dân sự 2015 thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng như đã thỏa thuận.

Căn cứ Điều 351 Bộ luật dân sự 2015 về trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự quy định:

Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.

Căn cứ quy định trên, trường hợp người mua đã thanh toán đủ số tiền hàng nhưng người bán không giao hàng có thể xác định là người bán đã vi phạm nghĩa vụ. Và theo đó, người mua có quyền yêu cầu người bán hoặc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giao hàng hoặc hoàn trả tiền người mua đã chuyển và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Các quy định tại Điều 186, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định, người mua có quyền gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận, huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi đóng trụ sở nếu bị đơn là tổ chức để yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ nếu các bên không tự thỏa thuận được hoặc bị đơn cố tình trốn tránh.

Trường hợp đơn khởi kiện hợp lệ, vụ việc sẽ được Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục luật đinh. Xong, con đường khởi kiện không phải hành trình đơn giản bởi tốn kém cả về thời gian và chi phí, do vậy, khi số tiền bị mất không lớn người ta thường sẽ ngậm ngùi cho qua chứ không tiến hành khởi kiện.

tm-img-alt

Sai phạm trong mua hàng online sẽ bị xử lý nghiêm minh

Nếu người vi phạm có dấu hiệu gian dối nhằm chiếm đoạt toàn bộ số tiền của bên mua (xóa trang web, không thể liên lạc được, ….) thì người mua có quyền gửi đơn tố giác tội phạm tới Cơ quan có thẩm quyền tại Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Bên bán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 nếu bên bán đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc bên bán đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Bên cạnh các quy định hiện hành, từ ngày 1/7/2026, Luật Thương mại điện tử mới sẽ chính thức có hiệu lực, tạo hành lang pháp lý chặt chẽ hơn cho hoạt động mua bán trực tuyến.

Luật đặt ra yêu cầu xác thực danh tính người bán, tăng trách nhiệm của các nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, tiếp nhận và xử lý khiếu nại.

Đây được xem là bước tiến quan trọng nhằm hạn chế tình trạng mua bán “ẩn danh” và giảm thiểu rủi ro cho người mua hàng online.

Để bảo vệ quyền lợi của mình, người tiêu dùng cần lưu giữ đầy đủ chứng cứ giao dịch như: tin nhắn trao đổi, thông tin người bán, hóa đơn chuyển khoản, bài đăng quảng cáo.

Khi có dấu hiệu bị lừa đảo hoặc xâm phạm quyền lợi, người dân có thể gửi đơn trình báo đến cơ quan công an hoặc phản ánh đến cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để được xem xét, xử lý theo quy định.

Cùng chuyên mục

Tin mới