Thứ ba, 25/03/2025 08:53 (GMT+7)

Một số đề xuất xây dựng mô hình quản lý biên giới thông minh của Hải quan Việt Nam

Biên giới thông minh” nhằm khuyến khích các thành viên nghiên cứu sâu hơn lĩnh vực công nghệ để tìm ra các giải pháp tạo thuận lợi cho dòng hàng hóa, con người và vận chuyển qua biên giới.

Nhằm thúc đẩy tiến trình cải cách hiện đại hóa, đáp ứng xu hướng số hóa trên toàn cầu, phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) đã xây dựng khuyến nghị về phát triển “biên giới thông minh” nhằm khuyến khích các thành viên nghiên cứu sâu hơn lĩnh vực công nghệ để tìm ra các giải pháp tạo thuận lợi cho dòng hàng hóa, con người và vận chuyển qua biên giới, đồng thời tuân theo các nguyên tắc hướng dẫn cho biên giới thông minh trên 5 trụ cột chính: An toàn, Có thể đo lường, Tự động hóa, Dựa trên quản lý rủi ro và Dựa trên công nghệ (SMART borders: Secure, Measurable, Automated, Risk Management-based and Technology-driven).

Mô hình Biên giới thông minh theo khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới

Khái niệm Biên giới thông minh xuất hiện trong tuyên bố chung giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Canada vào năm 2001 nhằm xây dựng một đường biên giới hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho hoạt động thương mại, du lịch, vận tải quốc tế, đảm bảo an ninh quốc gia và chống lại các vi phạm pháp luật hải quan. Mô hình quản lý biên giới thông minh cũng được các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) nghiên cứu và triển khai trong quản lý biên giới nội khối và giữa Liên minh châu Âu (EU) với các nước ngoài khối, như giữa EU với Thổ Nhĩ Kỳ, EU-Ireland, EU-Vương Quốc Anh.

Trước bối cảnh đại dịch COVID-19, di cư tự do, các thách thức từ rào cản thương mại và khủng bố, WCO đã lựa chọn chủ đề mang tính thách thức nhất với hải quan toàn cầu của năm 2019 là “Biên giới thông minh cho Thương mại, Du lịch và Vận tải thông suốt” với ý tưởng Hải quan đóng một vai trò quan trọng trong phối hợp với các cơ quan quản lý biên giới nhằm tạo thuận lợi cho thương mại, giao thương và trong việc đảm bảo an ninh biên giới thông qua các thủ tục hành chính tại biên giới được đơn giản hóa, tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa. WCO khuyến nghị và cam kết thúc đẩy việc chuyển đổi các biên giới thành “Biên giới thông minh”, trong đó hải quan đóng vai trò là trung tâm kết nối và điều phối của chiến lược đó.

Quan điểm của WCO về "Mô hình Biên giới thông minh" là nhấn mạnh vai trò của hải quan trong việc hỗ trợ Chương trình nghị sự 2030 của Liên Hiệp Quốc về phát triển bền vững. Hải quan tiếp tục cải cách, đơn giản hóa thủ tục hải quan, tiêu chuẩn hóa và hài hòa hóa theo tinh thần của Công ước Kyoto sửa đổi 1999 nhằm tạo điều kiện minh bạch và có thể dự báo được cho thương mại quốc tế, tạo thuận lợi cho kinh doanh hợp pháp, góp phần vào tăng trưởng kinh tế.

Trong những năm tới, công nghệ sẽ tiếp tục đóng vai trò ngày càng tăng trong tính toàn vẹn của chuỗi cung ứng. Chẳng hạn như, ngành chuyển phát nhanh có nhiều dữ liệu, hỗ trợ nhật ký ghi lại hành trình của lô hàng, đảm bảo tính toàn vẹn của lô hàng trong chuỗi cung ứng, thì kho thông tin vàng này sẽ không có giá trị trừ khi có nền tảng tiêu chuẩn hóa để Hải quan thu thập và giải thích. dữ liệu này. Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế cũng kêu gọi phát triển các tiêu chuẩn xung quanh việc chia sẻ dữ liệu trên web, trong việc số hóa dữ liệu hàng hóa hàng không.

Như vậy, mô hình quản lý biên giới thông minh có thể hiểu là mô hình trong đó cơ quan Hải quan sẽ phối hợp với các cơ quan có chức năng quản lý biên giới trong việc chia sẻ thông tin, tăng cường hoạt động chung, thừa nhận lẫn nhau về kết quả kiểm tra, kiểm soát; phối hợp quản lý biên giới; hợp tác giữa các cơ quan chức năng và hợp tác xuyên biên giới trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin, quản lý rủi ro, tự động hóa quy trình thủ tục hải quan trong các hoạt động quản lý biên giới với mục tiêu thông quan nhanh vừa đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về hải quan.   

Mô hình quản lý biên giới thông minh khuyến khích các thành viên WCO đi sâu vào lĩnh vực công nghệ để tìm giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho dòng người, hàng hóa và phương tiện vận chuyển qua biên giới đồng thời tuân thủ các nguyên tắc hướng dẫn về biên giới SMART. Trong thực tế, việc thiếu một hệ thống gắn kết sẽ dẫn đến thông tin sai lệch và không thống nhất giữa các thủ tục khác nhau tại các cửa khẩu biên giới, gây chậm trễ và phức tạp trong thủ tục kiểm soát không cần thiết cho việc vận chuyển hàng hóa xuyên biên giới. Do đó, WCO khuyến khích sự thay đổi mô hình quản lý biên giới theo hướng tích hợp công nghệ hiện đại, hướng tới Trạm biên giới một cửa (OSBP) và Hệ thống một cửa thương mại (SWS).

tm-img-alt
Biên giới thông minh” nhằm khuyến khích các thành viên nghiên cứu sâu hơn lĩnh vực công nghệ để tìm ra các giải pháp tạo thuận lợi cho dòng hàng hóa, con người và vận chuyển qua biên giới (ảnh minh họa).

Hải quan Việt Nam đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu nghiệp vụ hướng tới mô hình quản lý biên giới thông minh

Việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT và thực hiện chuyển đổi số cũng là động lực quan trọng để đưa Hải quan Việt Nam lên giai đoạn phát triển cao theo mô hình phát triển Hải quan số mà Tổ chức Hải quan Thế giới đưa ra. Hiện nay, Hải quan các nước trên thế giới đều đẩy mạnh công tác chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ của Cách mạng Công nghệ 4.0; do đó, việc thực hiện chuyển đổi số sẽ tránh được nguy cơ tụt hậu so với Hải quan các nước trên thế giới. Việc thực hiện chuyển đổi số sẽ giúp cho ngành Hải quan đổi mới căn bản, toàn diện, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hải quan, nâng cao năng suất lao động của cán bộ, công chức hải quan; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan. Đặc biệt, việc chuyển đổi số giúp cho việc thực hiện thủ tục hải quan được thực hiện hoàn toàn trên môi trường số, mọi lúc, mọi nơi, mọi phương tiện thông qua hệ thống CNTT và nguồn dữ liệu lớn với sự hỗ trợ mạnh mẽ của các công nghệ mới như: Trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), ...

Hướng tới phục vụ xây dựng và triển khai mô hình quản lý biên giới thông minh theo khuyến nghị của WCO, hiện nay Cục Hải quan đã hoàn thiện Đề án cơ sở dữ liệu quốc gia về Hải quan và Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của Cục, phát triển Chính phủ số và bảo đảm an toàn thông tin mạng giai đoạn 2021 – 2025.

Trong năm 2025, sau khi triển khai mô hình mới, Cục Hải quan tiếp tục tập trung nguồn lực đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý biên giới theo trách nhiệm và phạm vi hoạt động của Hải quan, góp phần hoàn thành mục tiêu hình thành Hải quan số vào năm 2025 theo Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2030, như Triển khai thí điểm việc thanh toán thuế, phí liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu thông qua các trung gian thanh toán; Triển khai hệ thống quản lý cửa hàng kinh doanh hàng miễn thuế; Triển khai diện rộng hệ thống kế toán nội bộ; Xây dựng phần mềm giám sát phương tiện vận tải ra vào khu vực kiểm soát hải quan...

Với mục tiêu đưa công nghệ vào quản lý hoạt động XNK, XNC tại biên giới, Cục Hải quan đã áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro để giảm gánh nặng về thủ tục hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan của DN; tăng cường giám sát trực tuyến qua Trung tâm giám sát trực tuyến của cơ quan Hải quan đảm bảo kiểm soát trên tất cả các khâu nghiệp vụ, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu trên toàn quốc, giảm tiếp xúc, tạo thuận lợi cho thông quan hàng hóa, đồng thời kiểm soát và ngăn chặn các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại; đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giải quyết thủ tục hải quan, duy trì thực hiện tốt việc khai báo, thông quan qua mạng, giải quyết hồ sơ qua dịch vụ công trực tuyến; tăng cường trả lời vướng mắc về thủ tục hải quan cho DN qua Cổng thông tin điện tử của ngành Hải quan. Nâng cao hiệu quả sử dụng hệ thống thông quan tự động, các hệ thống CNTT hoạt động ổn định, đảm bảo an ninh, an toàn đảm bảo cho thông quan hàng hóa nhanh chóng, thông suốt.

Hiện nay, cơ quan Hải quan đã được trang bị và sử dụng, vận hành nhiều hệ thống trang thiết bị hiện đại, ví dụ như: hệ thống máy soi, camera, seal định vị, hệ thống thông quan tập trung tự động… hỗ trợ CBCC trong hoạt động nghiệp vụ, giảm tiếp xúc giữa CBCC và doanh nghiệp, tạo thuận lợi trong hoạt động thông quan cho DN và minh bạch, công khai, khách quan.

Nâng cao hiệu quả, các giải pháp về công nghệ thông tin, kết nối dữ liệu, hỗ trợ người khai hải quan, người nộp thuế qua hệ thống ngân hàng; kết nối trao đổi thông tin với các Bộ, ngành, cơ quan có liên quan trong giải quyết thủ tục hành chính trên Hệ thống Một cửa quốc gia, Một cửa ASEAN, trong giải quyết các thủ tục liên quan đến kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK; áp dụng chữ ký số trong thực hiện thủ tục hải quan, tạo thuận lợi cho DN trong hoạt động thương mại điện tử, đảm bảo hàng hóa được thông quan nhanh chóng, thuận lợi.

Cơ quan Hải quan cũng đã nâng cấp hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu đảm bảo việc truyền, nhận thông tin dữ liệu, xử lý thông tin dữ liệu thông suốt, an toàn, nhanh chóng. Tăng cường phối hợp với Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, cơ quan Thuế... trên địa bàn để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN trong thực hiện việc nộp thuế điện tử và thông quan 24/7; triển khai có hiệu quả Hệ thống Một cửa quốc gia đường hàng không; Hệ thống quản lý, giám sát tự động tại các sân bay quốc tế và Hệ thống quản lý, giám sát hải quan tự động tại cảng biển.

Ứng dụng CNTT của ngành Hải quan mặc dù đã được triển khai mạnh mẽ với 24 hệ thống CNTT hiện có, phục vụ cho việc thực hiện thủ tục hải quan và công tác quản lý nhà nước về hải quan. Tuy nhiên, mức độ tự động hóa của các hệ thống chưa cao, chưa đồng đều, hiện mới chỉ có hệ thống VNACCS/VCIS có mức độ tự động hóa cao, các hệ thống còn lại có mức độ tự động hóa hạn chế, đặc biệt là các hệ thống phục vụ công tác quản lý nhà nước về hải quan, chủ yếu mới chỉ là công cụ lưu giữ và tra cứu dữ liệu, chưa có các tính năng tự động hỗ trợ cán bộ công chức hải quan trong công tác nghiệp vụ như kiểm tra trị giá, mã số HS,….

Bên cạnh đó, mức độ đồng bộ, tích hợp giữa các hệ thống còn hạn chế, do các hệ thống được phát triển qua các giai đoạn khác nhau, xây dựng phân mảng, tách biệt, độc lập theo yêu cầu của từng lĩnh vực nghiệp vụ riêng lẻ. Mặc dù có 24 hệ thống CNTT, nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu quản lý xuyên suốt từ khâu đầu đến khâu cuối đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, chưa bao phủ hết các lĩnh vực quản lý nghiệp vụ của ngành, tính sẵn sàng, linh hoạt của các hệ thống còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời các yêu cầu thay đổi của quy định pháp luật.

Do đó, trong thời gian tới để thực hiện mô hình Biên giới thông minh, Hải quan Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy, hoàn thiện quy trình hải quan theo hướng số hóa, tự động hóa, tăng cường tính tổng thể tại khu vực cửa khẩu phục vụ công tác quản lý, theo dõi, giám sát, đánh giá toàn bộ hoạt động của khu vực cửa khẩu trong thời gian tới.

Cùng chuyên mục

Báo chí và cuộc sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy
Sáng 26/3, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa trong buổi làm việc với lãnh đạo 5 cơ quan báo chí chính trị chủ lực nhấn mạnh "tinh thần là tiếp tục rà soát, củng cố để làm tốt hơn nữa công tác sắp xếp bộ máy tổ chức".
Sẽ xóa bỏ nhiều cơ quan thanh tra cấp sở và huyện
Hơn 12 thanh tra bộ, 5 thanh tra tổng cục và cục thuộc bộ, cùng 1.001 thanh tra sở, 696 thanh tra huyện sẽ được tái cơ cấu theo dự thảo Luật Thanh tra (sửa đổi) vừa được Thanh tra Chính phủ gửi Bộ Tư pháp thẩm định.

Tin mới

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu rà soát, báo cáo các dự án đầu tư công gặp vướng mắc trước 10/4
Ngày 31/3, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã ký Công điện số 26/CĐ-TTg, yêu cầu các bộ ngành, địa phương nhanh chóng rà soát, cập nhật báo cáo các dự án đầu tư công gặp khó khăn, vướng mắc hoặc tồn đọng kéo dài trên Hệ thống đầu tư công quốc gia