Thứ bảy, 17/01/2026 16:11 (GMT+7)

Không ký hợp đồng lao động bằng văn bản: Người sử dụng lao động bị xử phạt thế nào?

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giao kết hợp đồng lao động không chỉ là căn cứ xác lập quan hệ lao động mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Chị D.V.A (phường Cầu Giấy, Hà Nội) hỏi: Tôi làm việc cho một công ty tư nhân với thời hạn hơn 3 tháng nhưng hai bên chỉ thỏa thuận miệng, không ký hợp đồng lao động bằng văn bản. Trường hợp này, doanh nghiệp có vi phạm pháp luật không và sẽ bị xử phạt như thế nào?

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc giao kết hợp đồng lao động không chỉ là căn cứ xác lập quan hệ lao động mà còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

tm-img-alt

Giao kết hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.

Căn cứ tại Điều 13 Bộ luật Lao động 2019 quy định:      

Điều 13. Hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

Trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.

2. Trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động."

Theo đó trước khi nhận người lao động vào làm việc thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

Đồng thời, tại Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:

Điều 14. Hình thức hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

Hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

2. Hai bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói đối với hợp đồng có thời hạn dưới 01 tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 18, điểm a khoản 1 Điều 145 và khoản 1 Điều 162 của Bộ luật này."

Căn cứ khoản 1 Điều 20 Bộ luật Lao động 2019 như sau:

Điều 20. Loại hợp đồng lao động

1. Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng.

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn;

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng.

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.”

Như vậy, người lao động và người sử dụng lao động có thể thỏa thuận lựa chọn một trong số loại hợp đồng lao động trên để ký kết và phù hợp với nhu cầu và tính chất công việc.

tm-img-alt

Cần lựa chọn một trong số các loại hợp đồng lao động để ký kết và phù hợp với nhu cầu và tính chất công việc.

Trong trường hợp người lao động làm việc từ đủ 01 tháng trở lên nhưng doanh nghiệp không ký hợp đồng lao động bằng văn bản thì đây là hành vi vi phạm pháp luật lao động.

Về chế tài xử phạt, căn cứ theo quy định khoản 1, khoản 3 Điều 9 Nghị định số 12/2022/NĐ-CP như sau:

Điều 9. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động

1. Phạt tiền đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người lao động làm công việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên; giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng cho nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật Lao động; giao kết không đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

b) Từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với vi phạm từ 11 người đến 50 người lao động;

c) Từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với vi phạm từ 51 người đến 100 người lao động;

d) Từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với vi phạm từ 101 người đến 300 người lao động;

đ) Từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với vi phạm từ 301 người lao động trở lên.

...

3. Biện pháp khắc phục hậu quả

a) Buộc người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người lao động khi có hành vi giao kết hợp đồng lao động không bằng văn bản với người lao động làm công việc có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên quy định tại khoản 1 Điều này;

b) Buộc người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng khi có hành vi không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản với người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động cho nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên làm công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại khoản 2 Điều 18 của Bộ luật Lao động được quy định tại khoản 1 Điều này;

c) Buộc người sử dụng lao động giao kết đúng loại hợp đồng với người lao động đối với hành vi giao kết không đúng loại hợp đồng lao động với người lao động quy định tại khoản 1 Điều này;

d) Buộc người sử dụng lao động trả lại bản chính giấy tờ tùy thân; văn bằng; chứng chỉ đã giữ của người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

đ) Buộc người sử dụng lao động trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

Ngoài ra tại khoản 1 Điều 6 Nghị định 12/2022/NĐ-CP quy định:

Điều 6. Mức phạt tiền, thẩm quyền xử phạt và nguyên tắc áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính nhiều lần

Mức phạt tiền quy định đối với các hành vi vi phạm quy định tại Chương II, Chương III và Chương IV Nghị định này là mức phạt đối với cá nhân, trừ trường hợp quy định tại khoản 1, 2, 3, 5 Điều 7; khoản 3, 4, 6 Điều 13; khoản 2 Điều 25; khoản 1 Điều 26; khoản 1, 5, 6, 7 Điều 27; khoản 8 Điều 39; khoản 5 Điều 41; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Điều 42; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 Điều 43; khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 Điều 45; khoản 3 Điều 46 Nghị định này. Mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân."

Ngoài việc bị xử phạt hành chính, doanh nghiệp còn có trách nhiệm khắc phục hậu quả, bảo đảm đầy đủ quyền lợi cho người lao động theo quy định, bao gồm tiền lương, thời giờ làm việc, chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác phát sinh từ quan hệ lao động.

Vì vậy, để tránh rủi ro pháp lý và bảo đảm quyền lợi của mình, người lao động cần chủ động yêu cầu ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản trước khi làm việc; đồng thời, người sử dụng lao động cần tuân thủ nghiêm các quy định của pháp luật lao động nhằm xây dựng quan hệ lao động ổn định, bền vững và đúng pháp luật.

Cùng chuyên mục

Tin mới