Thông tin phản ánh về những bãi tập kết vật liệu gây bụi ở xã Sóc Sơn
Bạn đọc phản ánh về nhiều bãi tập kết vật liệu xây dựng tại xã Sóc Sơn (Hà Nội) có dấu hiệu hoạt động trái phép, nguy cơ ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt của người dân.
Tạp chí Phổ biến và Tham vấn pháp luật Việt Nam nhận được phản ánh của bạn đọc về việc trên địa bàn xã Sóc Sơn có nhiều bến bãi, trung chuyển vật liệu xây dựng có dấu hiệu hoạt động trái phép, có dấu hiệu trên đất nông nghiệp, đất công (sử dụng sai mục đích đất).
Theo phản ánh, thôn Phú Thọ và thôn Tuyền xã Sóc Sơn (thôn Phú Thọ và thôn Tuyền, xã Đông Xuân, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội trước khi sáp nhập) có nhiều khu đất nông nghiệp, không khí trong lành. Nhưng mấy năm, tại đây mọc lên nhiều bãi tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng làm ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống sinh hoạt của người dân.

Bạn đọc cho biết bãi tập kết vật liệu xây dựng của chủ có tên Đông Hoa (sát đường 16 thuộc thôn Phú Thọ, xã Sóc Sơn) có dấu hiệu hoạt động trái phép, trên đất nông nghiệp, đất công của xã (sử dụng sai mục đích đất), có dấu hiệu ô nhiễm môi trường. Bạn đọc cho rằng tiêu thụ vật liệu xây dựng không rõ nguồn gốc, không hóa đơn chứng từ là có dấu hiệu tiếp tay cho hành vi kinh doanh, buôn bán, khai thác tài nguyên lậu, (ảnh: bạn đọc cung cấp).
Một số bãi tập kết vật liệu xây dựng điển hình bị phản ánh gồm: bãi tập kết vật liệu xây dựng của ông Hoàng Cường, bãi tập kết vật liệu xây dựng của ông Đông Hoa (thuộc thôn Phú Thọ, xã Sóc Sơn) và bãi tập kết vật liệu của gia đình ông Tuân Lê trên đường liên xã thuộc thôn Tuyền (đối diện nhà số 43 đường liên xã thôn Tuyền). Các bãi tập kết vật liệu trên đều có dấu hiệu hoạt động trái phép, trên đất nông nghiệp, đất công của xã (sử dụng sai mục đích đất), có dấu hiệu ô nhiễm môi trường. Ngoài ra, xe tải vào vận chuyển vật liệu xây dựng (cát) có dấu hiệu quá tải, rơi vãi làm mất an toàn giao thông, ô nhiễm môi trường.
Bạn đọc cho rằng tiêu thụ vật liệu xây dựng không rõ nguồn gốc, không hóa đơn chứng từ là tiếp tay cho hành vi kinh doanh, buôn bán, khai thác tài nguyên lậu. Vì vậy, cần kiểm tra, xử lý đối với hoạt động bến bãi vật liệu này (nếu có sai phạm).

Bạn đọc cho biết bãi tập kết vật liệu xây dựng của gia đình ông Hoàng Cường (thuộc thôn Phú Thọ, xã Sóc Sơn) có dấu hiệu hoạt động trái phép, trên đất nông nghiệp, đất công của xã (sử dụng sai mục đích đất), có dấu hiệu ô nhiễm môi trường, không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc (có dấu hiệu trốn thuế). Bạn đọc cho rằng tiêu thụ vật liệu xây dựng không rõ nguồn gốc, không hóa đơn chứng từ là có dấu hiệu tiếp tay cho hành vi kinh doanh, buôn bán, khai thác tài nguyên lậu, (ảnh: bạn đọc cung cấp).

Bạn đọc cho biết bãi tập kết vật liệu xây dựng gia đình ông Tuân Lê trên đường liên xã thuộc thôn Tuyền (đối diện nhà số 43 đường liên xã thôn Tuyền) có dấu hiệu sử dụng sai mục đích đất, có dấu hiệu ô nhiễm môi trường, không có hóa đơn chứng từ, không rõ nguồn gốc (có dấu hiệu trốn thuế). Bạn đọc cho rằng tiêu thụ vật liệu xây dựng không rõ nguồn gốc, không hóa đơn chứng từ là có dấu hiệu tiếp tay cho hành vi kinh doanh, buôn bán, khai thác tài nguyên lậu, (ảnh: bạn đọc cung cấp).
Căn cứ vào nội dung phản ánh của bạn đọc, Căn cứ theo các quy định của Luật Báo chí số 103/2016/QH13 ngày 5/4/2016 và Nghị định số: 09/2017/NĐCP ngày 9/12/2017 của Chính Phủ quy định chi tiết về việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính Nhà nước; Căn cứ Luật Tố cáo, khiếu nại; Thông tư số 05/2021/TT-TTCP ngày 1/10/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh. Ngày 16/12/2025, Tạp chí Phổ biến và Tham vấn pháp luật Việt Nam đã gửi công văn số 268/2025/CV-PBTVPL chuyển nội dung thông tin phản ánh của bạn đọc (kèm hình ảnh) đến Ủy ban nhân dân xã Sóc Sơn để xem xét và giải quyết thẩm quyền và thông tin kết quả tới Tạp chí.
Tuy nhiên đến nay, Tạp chí vẫn chưa nhận được bất kỳ thông tin phản hồi nào từ Ủy ban nhân dân xã Sóc Sơn.
Vậy Tạp chí Phổ biến và Tham vấn Pháp luật Việt Nam xin phản hồi thông tin như trên để bạn đọc được biết.
Nghị định 123/2024/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Điều 8. Sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
1. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang loại đất khác trong nhóm đất nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,5 héc ta;
b) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 3 héc ta;
d) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 3 héc ta trở lên.
2. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta;
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;
d) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 2 héc ta;
e) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ trên 2 héc ta trở lên.
3. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta;
b) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta;
c) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.
4. Hành vi chuyển đất trồng lúa sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì hình thức và mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng với quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.
5. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Điều 10. Sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép
1. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp (không phải đất ở) thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với diện tích đất dưới 0,05 héc ta;
b) Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
c) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;
d) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,5 héc ta đến dưới 1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 1 héc ta đến dưới 2 héc ta;
e) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 2 héc ta trở lên.
2. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất ở thuộc địa giới hành chính của xã thì hình thức và mức xử phạt như sau:
a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với diện tích đất từ dưới 0,01 héc ta;
b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,01 héc ta đến dưới 0,03 héc ta;
c) Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,03 héc ta đến dưới 0,05 héc ta;
d) Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;
đ) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với diện tích đất từ 0,1 héc ta trở lên.
3. Hành vi chuyển đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, không phải là đất lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp thuộc địa giới hành chính của phường, thị trấn thì mức xử phạt bằng 2 lần mức phạt tương ứng với quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả:
a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu của đất trước khi vi phạm, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 139 Luật Đất đai;
b) Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017
Điều 228. Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai
1. Người nào lấn chiếm đất, chuyển quyền sử dụng đất hoặc sử dụng đất trái với các quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 2 lần trở lên;
c) Tái phạm nguy hiểm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.




