Thách thức và rủi ro khi doanh nghiệp Việt Nam ký kết hợp đồng ngoại thương

Ngày: 2021-11-11 11:04:58
  

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với quốc tế, với hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTAs) là cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đặc biệt, khi dịch bệnh được kiểm soát, hoạt động giao thương sẽ tiếp tục được đẩy mạnh.

Trong thời kỳ hội nhập, phát triển kinh tế, bên cạnh những cơ hội thì thách thức và rủi ro là vấn đề cần lưu tâm đối với những doanh nghiệp Việt Nam khi ký kết các hợp đồng thương mại với đối tác nước ngoài luôn tồn tại song song bên cạnh những cơ hội.

Một trong những rủi ro mà hiện nay nhiều doanh nghiệp Việt đang gặp phải có thể kể đến như xung đột pháp luật về hợp đồng; sự bất đồng ngôn ngữ gây hiểu lầm ý nghĩa các điều khoản giữa các bên; tình trạng giá cả hàng hóa quy đổi từ tiền nước ngoài sang tiền Việt Nam thay đổi thất thường, liên tục; sự chênh lệch múi giờ giữa các nước khiến các doanh nghiệp Việt Nam lúng túng trong việc thực hiện các thỏa thuận về giá và thời hạn thanh toán khi đàm phán hợp đồng.

Ảnh minh họa

Rủi ro cũng có thể đến từ việc nhiều doanh nghiệp thiếu hiểu biết về pháp luật quốc tế. Đặc biệt là pháp luật các nước, Hiệp định mà Việt Nam và nước ký kết hợp đồng cùng tham gia, gây khó khăn nhất định trong việc áp dụng luật khi có xảy ra tranh chấp giữa các bên.

Tránh sự liều lĩnh, thiếu cẩn trọng khi giao kết Hợp đồng:

Đã có nhiều doanh nghiệp Việt Nam ký kết các hợp đồng thương mại với đối tác, mà chưa thẩm tra năng lực của họ hoặc thiếu kinh nghiệm khi xem xét kỹ lưỡng các điều khoản trong hợp đồng, dẫn đến tranh chấp, kiện tụng xảy ra. Thậm chí, trắng tay và đứng trên bờ vực phá sản. Đây là bài học vô cùng đắt giá cho sự liều lĩnh, thiếu cẩn trọng của những doanh nghiệp Việt Nam.

Nguyên nhân của sự gia tăng các tranh chấp trong thương mại là do các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn lỏng lẻo trong khâu giao kết hợp đồng với các đối tác. Các tranh chấp chủ yếu liên quan đến việc các doanh nghiệp Việt Nam bị lừa đảo, chiếm đoạt tiền đặt cọc, tiền ứng trước hợp đồng, tiền cung cấp dịch vụ… Phần lớn do không tìm hiểu kỹ về đối tác, thường không trực tiếp gặp mặt mà chỉ giao dịch qua thư điện tử, điện thoại, fax nên không có khả năng kiểm tra được tính xác thực của địa chỉ, số điện thoại, khả năng tài chính của đối tác.

Bên cạnh đó, còn xảy ra tình trạng một số doanh nghiệp Việt Nam nhận được chào hàng với giá rất hấp dẫn, điều kiện thanh toán, giao hàng thuận lợi... nên đã nhanh chóng ký kết hợp đồng và thanh toán ứng trước mà chưa kiểm tra về đối tác. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn sử dụng phương thức thanh toán tiềm ẩn nhiều rủi ro là điện chuyển tiền (TTR), trả trước, đặt cọc, tạm ứng với tỷ lệ phần trăm khá cao theo trị giá lô hàng. Khi có trục trặc xảy ra, không liên hệ được với đối tác thì mới nhận ra mình đã bị lừa đảo.

Những vụ việc ký kết làm ăn với đối tác nước ngoài mà doanh nghiệp Việt Nam trắng tay đã xảy ra rất nhiều. Điển hình như vụ việc nhiều doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đã bị đối tác Canada lừa đảo chiếm hàng loạt lô hàng trị giá hàng trăm ngàn USD. Hay là vụ việc doanh nghiệp xuất khẩu dứa đông lạnh cho đối tác Mỹ. Đến thời hạn thanh toán thì không nhận được tiền. Vì trong hợp đồng đối tác ghi “không có thông tin người thụ hưởng”.  

Qua những minh chứng cụ thể trên, có thể dễ dàng nhận thấy, thủ đoạn của những kẻ lừa đảo rất đa dạng. Nhiều trường hợp vô cùng tinh vi và bài bản, đánh vào sự chủ quan, thiếu thận trọng trong việc tìm hiểu thông tin về đối tác, về cách thức thanh toán, cũng như sự thiếu hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình thương lượng về các điều khoản hợp đồng để chiếm đoạt tài sản. Hậu quả là các doanh nghiệp mất trắng, tài sản đổ hết vào tay những kẻ lừa đảo trong các thương vụ.

Hiện nay, khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động giao kết hợp đồng ngoại thương của Việt Nam khá đầy đủ và chặt chẽ. Đặc biệt, các Hiệp định song phương, đa phương về thương mại và đầu tư đã góp phần hoàn thiện khung pháp lý về đầu tư thương mại cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, sự yếu thế của doanh nghiệp Việt Nam trong giao thương thương mại quốc tế xảy ra chủ yếu bởi các lý do chính như: Nhà nước chưa đầu tư, quan tâm các trung tâm hỗ trợ pháp lý quốc tế đủ tầm để tư vấn hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp. Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần là doanh nghiệp nhỏ, còn thiếu nguồn lực đầu tư cho đội ngũ pháp chế đủ tầm để tư vấn pháp lý cho mình. Chưa kể, bộ phận pháp chế của doanh nghiệp am hiểu pháp luật quốc tế, đủ tầm để tư vấn giải quyết tranh chấp còn rất mỏng.

Cho dù về nguyên tắc là bình đẳng pháp lý, nhưng do sự chênh lệch quá lớn về lợi thế tài chính, thương mại giữa doanh nghiệp Việt Nam và đối tác nước ngoài. Đặc biệt là các công ty đa quốc gia. Do đó, quá trình đàm phán, thương thảo các thoả thuận đầu tư, thương mại, các doanh nghiệp Việt Nam thường bị “lép vế”.

Tuân thủ quy định pháp luật về Hợp đồng ngoại thương

Để hạn chế triệt để những rủi ro pháp lý, trước khi quyết định đầu tư và ký kết hợp đồng thương mại, các doanh nghiệp cần phải kiểm tra, xác minh rõ ràng năng lực pháp lý, khả năng thực hiện hợp đồng của đối tác. Đồng thời, tiến hành các biện pháp để thẩm định khả năng tài chính, uy tín của đối tác dự định giao kết hợp đồng. Đây cũng là điều kiện quan trọng để hợp đồng có hiệu lực. Muốn làm được điều này thì các doanh nghiệp cần nâng cao khả năng hiểu biết pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình khi tham gia vào quan hệ hợp đồng thương mại.

Ngoài ra, sự hỗ trợ từ phía nhà nước và các tổ chức khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu rủi ro trong việc ký kết hợp đồng cho các doanh nghiệp. Đơn cử, cần hoàn thiện các hệ thống quy định của pháp luật về hoạt động thương mại nhằm tạo hành lang pháp lý an toàn, đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp. Đồng thời, các Hiệp hội kinh doanh có thể tư vấn, ý kiến đóng góp kịp thời để trợ giúp về mặt pháp lý cho các doanh nghiệp, giúp họ nắm bắt kịp thời vấn đề để đưa ra hướng xử lý phù hợp, tránh những rủi ro và hậu quả trong tương lai.

Rủi ro lớn nhất thường phát sinh trong quá trình ký kết hợp đồng là việc các bên vi phạm các quy định liên quan đến hợp đồng dẫn đến tình trạng hợp đồng vô hiệu và không có giá trị thực hiện. Do đó, các doanh nghiệp cần tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015 như: Điều kiện về chủ thể, mục đích, nội dung hợp đồng và hình thức của hợp đồng.

Một dạng rủi ro khác phát sinh trong quá trình này là rủi ro về nội dung, điều khoản của hợp đồng. Những nội dung cơ bản của một hợp đồng quy định cụ thể tại Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015, do đó cần soạn thảo đầy đủ, chặt chẽ các nội dung để khi tranh chấp xảy ra sẽ dễ dàng chứng minh được để xác định trách nhiệm và bồi thường thiệt hại cho các bên. Ngoài ra, các bên trong hợp đồng cần chú trọng đến các điều khoản về bất khả kháng, về phạt vi phạm, phương thức giải quyết tranh chấp để đảm bảo tối đa quyền lợi của mình khi có vi phạm nghĩa vụ và các tranh chấp xảy ra.

Rủi ro tiếp theo là rủi ro về khả năng thanh toán hay về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng của đối tác khiến nhiều doanh nghiệp lo lắng, liên quan trực tiếp tới tình trạng nợ khó đòi hay gặp phải. Vì thế, hợp đồng cần phải có các điều khoản phạt vi phạm và giải quyết tranh chấp để áp dụng khi cần thiết.

Hoạt động kinh doanh luôn đi kèm với những rủi ro nhất định. Vì vậy các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, kiến thức pháp luật của nguồn nhân lực để phát triển thị trường của doanh nghiệp mình.

Luật gia ĐỖ MINH CHÁNH

(Trung tâm Tư vấn pháp luật TP. Hồ Chí Minh)

TIN CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN