Quy định của pháp luật về huy động nguồn lực xã hội tham gia trợ giúp pháp lý

Ngày: 2021-11-06 09:56:46
  

Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã khẳng định rõ ràng, khá toàn diện chính sách và các giải pháp của Nhà nước nhằm thu hút hiệu quả các nguồn lực xã hội cho công tác trợ giúp pháp lý.

Quy định về chính sách thu hút xã hội tham gia trợ giúp pháp lý

Điều 4 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 đã dành 2 trong tổng số 4 chính sách của Nhà nước về trợ giúp pháp lý để thể hiện định hướng thu hút nguồn lực xã hội tham gia công tác trợ giúp pháp lý, đó là: - Nhà nước có chính sách nâng cao chất lượng trợ giúp pháp lý, thu hút các nguồn lực thực hiện trợ giúp pháp lý (khoản 3). - Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, ghi nhận và tôn vinh các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, đóng góp cho hoạt động trợ giúp pháp lý (khoản 4).

Đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý

Về tổ chức: Theo quy định hiện nay thì các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: (1) tổ chức hành nghề luật sư và (2) tổ chức tư vấn pháp luật. Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý theo hai hình thức: (1) đăng ký tham gia với Sở Tư pháp, (2) ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp. Các tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý được thụ hưởng những quyền và thực hiện nghĩa vụ tương đồng như tổ chức trợ giúp pháp lý của Nhà nước và các quyền, nghĩa vụ riêng tùy hình thức tham gia trợ giúp pháp lý (Điều 13 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017). Chế định tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức tư vấn pháp luật ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Sở Tư pháp là một điểm mới về thu hút xã hội tham gia theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Việc ký hợp đồng căn cứ vào nhu cầu trợ giúp pháp lý tại địa phương, nguồn lực đáp ứng của Trung tâm trợ giúp pháp lý. Tham gia trợ giúp pháp lý theo cơ chế này, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý được nhận thù lao vụ việc trợ giúp pháp lý theo quy định. Về cá nhân: Cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý bao gồm: (1) Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; (2) luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; (3) Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;  (4) cộng tác viên trợ giúp pháp lý (khoản 1 Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý 2017). Những người thực hiện trợ giúp pháp lý đều có quyền “Được bảo đảm thực hiện trợ giúp pháp lý độc lập, không bị đe dọa, cản trở, sách nhiễu hoặc can thiệp trái pháp luật” và “Được bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ trợ giúp pháp lý” (khoản 1 Điều 18). Việc huy động xã hội tham gia trợ giúp pháp lý cũng đặt ra yêu cầu về sự tham gia thực chất cũng như bảo đảm chất lượng dịch vụ trợ giúp pháp lý, do đó, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 (Điều 14, Điều 15) quy định các điều kiện cụ thể về tiêu chuẩn tham gia trợ giúp pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức tư vấn pháp luật, cá nhân. Có thể nói, với những quy định chặt chẽ ngay từ khi xác định các tổ chức, cá nhân có quyền cung cấp dịch vụ trợ giúp pháp lý, Nhà nước đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý có chất lượng cho người nghèo, đối tượng chính sách và các đối yếu thế khác trong xã hội.

Quy định thù lao thực hiện vụ việc của tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý

Một trong những chính sách để khuyến khích sự tham gia tích cực của người thực hiện TGPL, tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý là quy định thù lao cho luật sư thực hiện vụ việc tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật. Mức thù lao cho người thực hiện trợ giúp pháp lý luôn được quan tâm và thay đổi phù hợp với việc điều chỉnh lương tối thiểu, tăng chỉ số giá tiêu dùng. Đăc biệt, gần đây Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2015/NĐ-CP ngày 17/9/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 14/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý và nay là Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017. Các văn bản này đã có quy định tăng mức thù lao, bồi dưỡng đối với người thực hiện trợ giúp pháp lý.

Vụ việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tham gia tố tụng, luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm được hưởng thù lao theo buổi làm việc (1/2 ngày làm việc) là 0,38 mức lương cơ sở/buổi làm việc nhưng tối đa không quá 30 buổi làm việc/vụ việc hoặc theo hình thức khoán chi vụ việc với mức tối thiểu bằng 03 mức lương cơ sở/vụ việc và mức tối đa không quá 10 mức lương cơ sở/vụ việc (căn cứ vào tính chất phức tạp, yêu cầu tố tụng và nội dung của từng vụ việc cụ thể). Vụ việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức đại diện ngoài tố tụng, luật sư ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm được hưởng thù lao là 0,31 mức lương cơ sở/buổi làm việc nhưng tối đa không quá 20 buổi làm việc/vụ việc. Vụ việc trợ giúp pháp lý bằng hình thức tư vấn pháp luật, luật sư, cộng tác viên trợ giúp pháp lý ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý với Trung tâm được hưởng thù lao từ 0,08 - 0,15 mức lương cơ sở/văn bản tư vấn pháp luật tùy tính chất phức tạp và nội dung của vụ việc. So với thù lao cho luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng quy định tại Thông tư số 191/2014/TTLT-BTC-BTP[2].

Thủ tục tham gia trợ giúp pháp lý được nghiên cứu theo hướng đơn gian, thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý

Để hướng dẫn chi tiết, cụ thể về việc ký hợp đồng, đăng ký tham gia trợ giúp pháp lý, ngày 15/11/2017, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 08/2017/TT-BTP quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động trợ giúp pháp lý để các địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất trên toàn quốc. Qua thực tiễn hơn 3 năm triển khai, tiếp thu nghiên cứu một số đề xuất về việc đơn giản hơn nữa thủ tục, rút ngắn thời gian để các tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp đã kịp thời sửa đổi pháp luật cho phù hợp. Ngày 25/5/2021, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 03/2021/TT-BTP sửa đổi Thông tư số 08/2017/TT-BTP hướng dẫn Luật TGPL và hướng dẫn giấy tờ trong hoạt động TGPL; Thông tư số 12/2018/TT-BTP hướng dẫn một số hoạt động nghiệp vụ TGPL và quản lý chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý, trong đó đã có những quy định tạo thuận lợi hơn cho tổ chức, cá nhân tham gia trợ giúp pháp lý. Cụ thể, Thông tư đã rút ngắn thời gian đánh giá hồ sơ của tổ chức, cá nhân ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý từ 15 ngày xuống còn 10 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ. Ngoài ra, Thông tư bổ sung thời hạn kéo dài thời gian ký hợp đồng với cộng tác viên trợ giúp pháp lý trong trường hợp có lý do chính đáng không quá 35 ngày kể từ ngày được cấp thẻ. Đồng thời, bổ sung thời hạn luật sư, tổ chức ký hợp đồng với Trung tâm, Sở Tư pháp là không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo trong trường hợp có lý do chính đáng. Một trong những điểm mới đáng chú ý của Thông tư là bỏ quy định về phụ lục hợp đồng để tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư, tổ chức trong quá trình ký hợp đồng thực hiện trợ giúp pháp lý.

 Để đa dạng hóa các hình thức nộp hồ sơ của luật sư đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và giảm thiểu thủ tục hành chính trong công tác trợ giúp pháp lý, Thông tư bổ sung thêm quy định: “Trường hợp hồ sơ được gửi qua thư điện tử thì thời điểm nộp hồ sơ là thời điểm hồ sơ đã gửi đến thư điện tử của Trung tâm. Nếu thời điểm hồ sơ gửi đến thư điện tử của Trung tâm ngoài giờ hành chính thì thời điểm nộp được tính là thời điểm bắt đầu từ ngày, giờ hành chính kế tiếp”. Thông tư cũng quy định nội dung này khi tổ chức nộp hồ sơ để lựa chọn, ký hợp đồng với Sở Tư pháp, cụ thể: “Trường hợp hồ sơ được gửi qua thư điện tử thì thời điểm nộp hồ sơ là thời điểm hồ sơ đã gửi đến thư điện tử của Sở Tư pháp. Nếu thời điểm nộp hồ sơ qua thư điện tử ngoài giờ hành chính thì thời điểm nộp được tính là thời điểm bắt đầu từ ngày, giờ hành chính kế tiếp”.

Huy động nguồn đóng góp tài chính của xã hội cho hoạt động trợ giúp pháp lý

Điều 5 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 xác định nguồn tài chính cho công tác TGPL, bao gồm nguồn ngân sách nhà nước; đóng góp, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước và các nguồn hợp pháp khác.

Huy động thông qua sự phối hợp với các tổ chức

Bên cạnh đó, để đẩy mạnh đa dạng hóa chủ thể tham gia trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp và Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã ký Quy chế phối hợp số 4617/QCPH/BTP-LĐLSVN ngày 28/12/2016 về hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, trong đó quy định có nội dung phối hợp trong việc giới thiệu và lựa chọn luật sư tham gia TGPL, đánh giá chất lượng TGPL. Căn cứ vào Quy chế phối hợp này, Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố phối hợp hoặc chỉ đạo Trung tâm  nhà nước trong phạm vi thẩm quyền của mình phối hợp với Đoàn luật sư xây dựng quy chế phối hợp trong công tác TGPL với những hoạt động cụ thể phù hợp với điều kiện thực tiễn của các địa phương. Ngoài ra, Bộ Tư pháp cũng đã ký kết với các chương trình phối hợp với Hội Luật gia Việt Nam giai đoạn 2018 - 2023 (Số 2727/CTPH-BTP-HLGVN ngày 25/7/2018), với Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh giai đoạn 2018-2022 (số 4144/CTr-BTP-TWĐTN ngày 29/10/2018)... trong đó có phối hợp trong việc thông tin, giới thiệu người được trợ giúp pháp lý đến Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước. Đến nay, nhiều địa phương (25 tỉnh) ký Quy chế phối hợp với Đoàn luật sư tỉnh/thành phố.

Như vậy, có thể thấy các biện pháp thu hút các tổ chức xã hội tham gia trợ giúp pháp lý vừa nhằm giúp đa dạng hóa các chủ thể thực hiện trợ giúp pháp lý vừa tạo nhiều kênh để người dân có thể tiếp cận dịch vụ trợ giúp pháp lý. Đây cũng là một trong những giải pháp để xã hội có thể tham gia rộng rãi hơn, có trách nhiệm hơn đối với hoạt động này. Việc đa dạng hóa chủ thể cung cấp dịch vụ với các cơ chế này sẽ thu hút và lựa chọn được các tổ chức có các điều kiện đáp ứng yêu cầu trợ giúp pháp lý của người dân, vừa bảo đảm yêu cầu quản lý, nâng cao trách nhiệm của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và sử dụng có hiệu quả kinh phí của Nhà nước.

Minh Hoàng

TIN CHUYÊN MỤC LIÊN QUAN