Chương trình NHỊP CẦU PHÁP LUẬT (số 1)

Admin

4 tháng trước

329 lượt xem
 Thêm vào Playlist  Báo cáo

Chọn nội dung báo cáo

Không phát được
Nội dung không phù hợp
Nội dung vi phạm bản quyền
Lý do khác ( Kiểm duyệt lại Video)
Gửi báo cáo

     Liên quan đến việc vợ chồng ông “Dũng Lò Vôi” tố cáo ông Võ Hoàng Yên có dấu hiệu “Lừa đảo” liên quan đến số tiền 152 tỷ. Phòng Cảnh sát hình sự, Công an TP Hồ Chí Minh mới đây có thư mời bà Nguyễn Phương Hằng vợ “Dũng Lò Vôi” lên làm việc để xác minh, cung cấp chứng cứ liên quan đến tố cáo đối với ông Võ Hoàng Yên.  Ban sx chương trình Nhịp cầu Pháp luật đã có buổi phỏng vấn Luật sư Nguyễn Văn Hậu, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP.HCM, Chủ tịch Trung tâm trọng tài Thương mại Luật gia Việt Nam, xung quanh vụ việc này.

 

      PV: Thưa Luật sư Nguyễn Văn Hậu, ông có thể cho biết những dấu hiệu nhận biết và cơ sở pháp lý nào để có thể để khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với ông Võ Hoàng Yên (nếu có sự việc phạm tội) theo kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra? Vậy những cơ sở, dấu hiệu nào để khẳng định ông Yên có tội hoặc vô tội (nếu có). Thưa ông?

     Luật sư Nguyễn Văn Hậu: Về quy định của pháp luật, chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ sau: Tố giác của cá nhân; tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân; tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; và người phạm tội tự thú. Căn cứ vào Điều 143, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tức là khi có sự tố giác của vợ chồng ông Dũng “lò vôi” và cơ quan điều tra xác định có dấu hiệu tội phạm thì có thể khởi tố vụ án đ điều tra xác minh và làm rõ.Điều kiện, cơ sở pháp lý khởi tố bị can: Sau khi thực hiện khởi tố vụ án và có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự  quy định là tội phạm, thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can (Khoản 1, Điều 179, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 ). Bị can là cá nhân, pháp nhân thực hiện hành vi mà Bộ luật Hình sự 2015 quy định là tội phạm (Khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015).

      Khi cơ quan điều tra đã có đủ chứng cứ, căn cứ để xác định ông Võ Hoàng Yên đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 174 và 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017, thì Cơ quan điều tra có thể ra quyết định khởi tố bị can đối với ông Võ Hoàng Yên. Cơ sở để nhận định “có tội” hoặc “vô tội” có những dấu hiệu nhận biết như sau:

Một hành vi được coi là có lỗi khi có đủ hai điều kiện:

     (i) Hành vi trái pháp luật hình sự: là những hành vi thực hiện không đúng quy định của pháp luật, xâm phạm tới khách thể mà luật hình sự bảo vệ.

   (ii) Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.

     Như vậy, để cho rằng “có tội” hoặc “vô tội” đối với trường hợp của ông Võ Hoàng Yên thì Cơ quan điều tra cần xác minh xem liệu có yếu tố lừa đảo, hành vi gian dối của ông Võ Hoàng Yên hay không.

       Trước tiên là điều tra về việc ông Võ Hoàng Yên có thể chữa bệnh như đã nói tới hay không hay là người hành nghề y không đàng hoàng, không thể chữa bệnh mà chỉ sử dụng “chiêu trò”, thủ đoạn gian dối để có thể nhận được tiền từ vợ chồng ông Dũng và những người khác. Bên cạnh đó, hành vi gian dối, lừa đảo của ông Yên đã được tính toán, sắp đặt từ trước để nhận tiền từ mọi người hay từ ban đầu không có hành vi lừa đảo, tuy nhiên sau khi ông Yên nhận được tiền thì nổi lòng tham và thực hiện hành vi “tẩu tán” tài sản (?)

       Cơ quan điều tra cần xác định việc vợ chồng ông Dũng chuyển tiền cho ông Võ Hoàng Yên với mục đích gì. Nếu việc tặng - cho tiền (không có văn bản) là giao dịch dân sự bình thường nên nếu không có thỏa thuận về điều kiện từ trước thì không thể đòi lại. Nếu không có thỏa thuận về điều kiện thì việc sử dụng số tiền này như thế nào là quyền của ông Võ Hoàng Yên. Nếu xác định được việc chuyển tiền này có điều kiện như để ủng hộ đồng bào miền Trung lũ lụt, xây chùa,... mà ông Yên không thực hiện theo điều kiện đã thỏa thuận giữa hai bên thì có thể đòi được số tiền nêu trên.

       PV: Bạn đọc Tạp chí………nêu lên câu hỏi giả định là: Thông tin mà bà Hằng cho rằng: Vợ chồng bà Hằng đã gửi tiền cho ông Yên với tư cách ủng hộ cho Hội quán Hưng An Tự (Bình Thuận) số tiền 3,8 tỷ đồng để làm từ thiện, ủng hộ đồng bào bị lũ lụt. Nhưng ông Yên chỉ sử dụng đúng mục đích có 2,7 tỷ đồng (theo Văn kiện của Chi hội Hưng An Tự). Nhưng nếu như ông Yên phản biện lại lời tố cáo này và nói là 3,8 tỷ mà vợ chồng bà Hằng đã chuyển để ông làm từ thiện. Nhưng chỉ mới sử dụng có 2,7 tỷ, số tiền còn lại chưa sử dụng hết, vẫn còn để đó và vẫn còn tiếp tục làm từ thiện, xây chùa cho những năm sau. Thậm chí nói sẽ từ thiện bất ký lúc nào mà ông thấy hợp lý…(!?) Bởi bà Hằng chuyển tiền để ông không có điều kiện gì kèm theo và cho rằng bà Hằng tự ý “cho tặng” mình vô điều kiện chứ không hề vay mượn...Luật sư Nguyễn Văn Hậu đánh giá sao về những câu hỏi của bạn đọc nêu như trên (!?).

      Luật sư Nguyễn Văn Hậu: Vâng, đó là những tranh luận của mọi người ngoài xã hội, và có thể của cả hai bên…Trong các giao dịch dân sự hiệ nay rất phức tạp. Chính vì vậy trong quy định của Bộ luật dân sự có quy định là: Có thể giao dịch dân sự bằng lời nói, bằng hành vi hoặc bằng văn bản. Với hợp đồng về chuyển quyền sở hữu tài sản là động sản thì có hiệu lực kể từ thời điểm có việc chuyển giao tài sản. Khi đã chuyển giao tài sản tặng cho mà không kèm theo điều kiện thì bên tặng cho tài sản không được quyền đòi lại.

      Giao dịch thứ hai giữa hai bên có thể phát sinh là việc ủy quyền để làm từ thiện. Đây là một quan hệ dân sự, theo đó dựa vào uy tín, sự tin tưởng của nhau mà vợ chồng ông Dũng chuyển tiền cho ông Yên đi làm từ thiện, (ủng hộ đồng bào lũ lụt miền Trung, chữa bệnh cho người nghèo, xây chùa....), với những số tiền này thì ông Yên buộc phải thực hiện đúng cam kết đã đưa ra từ trước đó.

       Về vấn đề này, cơ quan điều tra sẽ thụ lý tin báo và làm rõ có việc chuyển tiền giữa 2 bên hay không; số tiền chuyển là bao nhiêu; bao nhiêu lần chuyển tiền; mục đích mỗi lần chuyển tiền để làm việc gì; việc sử dụng tiền đã được thực hiện như thế nào…(?)

      Theo quy định của Bộ luật dân sự, trong quan hệ dân sự có thể có những hợp đồng, giao dịch tặng cho, ủy quyền, mua bán, chuyển nhượng... Bởi vậy, trong vụ việc này đối với số tiền mà vợ chồng ông Dũng cho ông Yên vô điều kiện thì hợp đồng có hiệu lực kể từ thời điểm ông Yên nhận được tiền. Trong những giao dịch tặng cho không kèm theo điều kiện, khi ông Yên đã nhận được tiền, vợ chồng ông Dũng không có quyền đòi lại. Trường hợp hợp đồng tặng cho có điều kiện ông Yên phải thực hiện điều kiện của việc tặng cho.

     Nếu ông Yên vi phạm cam kết về việc thực hiện điều kiện, ví dụ như giúp đỡ bệnh nhân, xây dựng cơ sở chữa bệnh…Thì vợ chồng ông Dũng có quyền đòi lại số tiền này.

      Với hợp đồng về chuyển quyền sở hữu tài sản là động sản thì có hiệu lực kể từ thời điểm có việc chuyển giao tài sản. Khi đã chuyển giao tài sản tặng cho mà không kèm theo điều kiện bên tặng cho tài sản không được quyền đòi lại. Giao dịch thứ hai giữa hai bên có thể phát sinh là việc ủy quyền để làm từ thiện.

 

       MC: Nếu như Cơ quan điều tra và đã có những chứng cứ, chứng minh ông Yên đã phạm tội, bởi những số tiền mà vợ chồng ông Dũng đã chuyển cho ông Võ Hoàng Yên là có điều kiện. Nhưng ông Yên sau khi nhận được tiền thì không thực hiện mà “tẩu tán” hết số tiền nêu trên hoặc dùng vào việc riêng...Như vậy ông này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ở tội danh gì? Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hay “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”?

       Luật sư Nguyễn Văn Hậu: Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì phải có các hành vi như vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn, sử dụng vào mục đích bất hợp pháp hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả thì được xem là phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tức là ngay từ ban đầu, ông những hành vi và cam kết của ông Võ Hoàng Yên là đúng sự thật, không có hành vi gian dối để vợ chồng ông Dũng “lò vôi” gửi tiền cho mình. Tuy nhiên sau khi nhận được tiền từ vợ chồng ông Dũng thì ông Võ Hoàng Yên nổi lòng tham đã “tẩu tán” số tiền nhận được này thì có thể xác định là Tội chiếm đoạt tài sản

     Theo tôi trong trường hợp này, ông Võ Hoàng Yên có thể bị khởi tố, truy cứu trách nhiệm hình sự ở tội danh Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Hành vi của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là ông Võ Hoàng Yên đã có mục đích, hành vi lừa đảo ngay từ đầu để chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông Dũng “lò vôi”. Trên thực tế, ông Yên không có khả năng chữa bệnh mà chỉ là người hành nghề đông y không đàng hoàng, hay sử dụng “chiêu trò” lâu lâu đưa ra để quảng cáo. Như vậy mục đích ngay từ ban đầu của ông Yên đã là lừa đảo, dùng hành vi gian dối để nhận được tiền từ vợ chồng ông Dũng. Như vậy trong trường hợp này có cơ sở để xác định ông Võ Hoàng Yên phạm Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

      Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì nếu chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 trở lên hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn tái phạm với mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân tùy mức mức độ vi phạm. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

PV: Vâng, xin cảm ơn ông !

Đức Hải

Chưa có đánh giá nào

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây